Chính phủ thường cho bạn 1 thứ vào tay phải thì sẽ lấy đi của bạn 1 thứ khác từ tay trái. Hôm rồi Tổng trưởng Di Trú Chris Evans thông báo rằng các đơn xin ra nhập quốc tịch của các vận động viên ngoại kiều sẽ được xét duyệt sớm để họ có thể tham gia thi đấu cho Úc. Trong nội dung những thay đổi sẽ được đệ trình quốc hội vào tháng 10, yêu cầu phải sống ở Úc trước khi được vào quốc tịch sẽ được rút từ 4 năm xuống còn 2 năm, cho những vận đông viên xuất sắc. Vậy mà chỉ 2 tuần trước đây, chính ông Bộ Trưởng này đã xiết chặt các điều kiện VISA cho du học sinh. Thượng Nghị sĩ Evans đã nói rằng việc xin VISA qua mạng sẽ bị hạn chế vì có nhiều bằng chứng cho thấy 1 số công ty Di Trú đã nộp tài liệu giả mạo, và thông báo du học sinh đến từ Ấn độ, đảo Mauritius, Nepal, Brazil, Zimbabwe và Pakistan sẽ phải trải qua các vòng phỏng vấn nghiêm ngặt trước khi có được Visa.
Mấy quy định mới này giống với những quy định đã áp dụng cho sinh viên tới từ Trung Quốc, thị trường xuất khẩu giáo dục lớn nhất của Úc, và tương tự với những quy định của các nước khác có số lượng sinh viên du học lớn như Mỹ. Điểu này cũng là 1 sự ngầm thừa nhận 1 khía cạnh rắc rối trong lịch sử sinh viên du học tại Úc: một số người qua Úc chỉ để kiếm cơ hội làm việc và định cư chứ không thiết tha gì với việc được đào tạo và bằng cấp. Thực tế này đã được khai thác bởi một số trường có những khóa học có giá trị đáng ngờ, và bởi một số cty tư vấn du học cấu kết với họ.
Bởi vậy, sự thừa nhận của TNS Evans rằng đơn xin Visa của sinh viên du học cần phải được xét duyệt kỹ càng hơn, là đáng khích lệ như 1 giải pháp đối với vấn đề này và còn là dấu hiệu chính phủ ông Rudd có ý định khôi phục tính nguyên tắc của các chính sách nhập cư của nước Úc. Tuy nhiên, việc dễ dãi với những vận động viên thể thao, chỉ vì họ có thể mang lại cho Úc một vài cái huy chương vàng có thực sự thể hiện tính nguyên tắc hay chưa.
Trong năm tài chính 2008-2009, số thường trú nhân, người tị nạn và công dân New Zealand đến Úc đã tăng 12.8%. Tuy nhiên con số đó làm mờ nhạt số tăng thực tế, mà phải tính cả 657,124 cư dân tạm thời với quyền được làm việc, tăng 11%. Gần như một nửa con số đó là sinh viên quốc tế.
Vấn đề ở đây không phải là có nên cho sinh viên quốc tế quyền làm việc. Vấn đề cơ bản là phải chăng chương trình nhập cư chính thức của Úc, dựa trên việc lựa chọn những người có kỹ năng nước Úc thiếu, đang bị lấn át bởi số người tạm cư có quyền làm việc. Người ta có thể biện minh cho việc những người tạm cư này mong muốn tới Úc vì thực tế là có việc làm cho họ. Kinh nghiệm thực tế từ lâu cũng cho thấy những lợi ích kinh tế của việc tăng dân nhập cư: tăng nhu cầu cho nền kinh tế. Thực tế là trong 10 năm qua nước Úc đã có một số lượng người nhập cư lớn nhất kể từ sau Thế Chiến thứ II. Tuy nhiên những điều kiện sống đã thay đổi nhiều kể từ đó. Nguồn cung cấp nước ngọt ngày một khan hiếm cũng chỉ là một trong số nhiều thách thức để làm sao có thể duy trì được chất lượng cuộc sống cho số người đang tăng nhanh.
Những thay đổi này đang hâm nóng lại cuộc tranh luận về di trú trong đó các lý thuyết gia sẽ thao túng. Những người ủng hộ việc tự do hóa thị trường lao động muốn thu nhập và khai thac những người lao động tạm thời mới sẽ đấu khẩu với những người muốn bảo tồn môi trường và chống lại tăng trưởng dân số. Cũng sẽ có 1 số người dùng lập luận về môi trường để che dấu động cơ kỳ thị chủng tộc của mình. Nhưng thực tế không nằm trong bất cứ luận điểm nào nói trên, bởi vậy việc xem xét lại nhu cầu và ưu tiên của vấn đề di trú của Úc mà TNS Evans đã thông báo là cực kỳ quan trọng. Có một điều chắc chắn rằng Úc có thể tăng số người tị nạn vào Úc mà không có ảnh hưởng nào đáng kể. Trong tổng số 232,598 người nhập cư vào Úc năm rồi, chỉ có 13,500 người tị nạn, rất ít so với số người tạm cư làm việc và sinh viên quốc tế có quyền làm việc là 474,516 người.
Những người đang theo dõi cuộc tranh luận về nhập cư, không đáng giận dữ hay lo lắng về một vài cái thuyền có đầy dân tị nạn cập bến vào bờ biển nước Úc.
Theo The Age.








